
Ngày 10/12/2025, Quốc hội đã thông qua Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 (Luật TMĐT), có hiệu lực từ ngày 01/07/2026, qua đó đánh dấu thay đổi mang tính bước ngoặt trong mô hình quản trị kinh tế số tại Việt Nam. Luật TMĐT thiết lập các nguyên tắc nền tảng cho một chế định quản lý mới, theo hướng chuyển dịch từ cơ chế “hậu kiểm” sang phương thức “kiểm soát chủ động”, đồng thời làm rõ trách nhiệm pháp lý của các chủ thể tham gia vào hệ sinh thái thương mại điện tử (TMĐT) hướng đến trọng tâm minh bạch, kỷ cương và phát triển bền vững cho thị trường TMĐT.
Đáng chú ý, việc luật hóa các mô hình hoạt động thương mại mới trên môi trường điện tử, như livestream và tiếp thị liên kết, đã đưa các hoạt động này vào khuôn khổ quản lý có điều kiện. Ngoài ra, bài viết này cũng nêu ra một số điểm nổi bật khác của Luật TMĐT với nội dung thiết lập các tiêu chuẩn vận hành mới cho nền kinh tế số.
Hoàn thiện khung pháp lý về TMĐT:
Trước đây, khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử được thiết lập thông qua các nghị định của Chính Phủ. Trong khi đó, theo nguyên tắc lập pháp, nghị định chỉ có chức năng quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật, không thể thay thế vai trò của một đạo luật do Quốc hội ban hành. Việc thiếu vắng một “luật gốc” đã khiến các quy định về TMĐT khó bảo đảm tính ổn định, thống nhất và dự báo, đặc biệt đối với một lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh và tính đặc thù cao. Việc ban hành Luật TMĐT đã khắc phục khoảng trống này, tạo lập nền tảng pháp lý ở cấp độ luật, qua đó nâng cao tính hợp hiến, hợp pháp và tính bền vững của cơ chế quản lý TMĐT tại Việt Nam.
Phân loại nền tảng số và xác lập cơ chế trách nhiệm tương xứng:
Luật TMĐT đã thiết lập một hệ thống phân loại toàn diện và cập nhật hơn, phản ánh sát thực tiễn vận hành của thị trường số so với quy định của Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, vốn chủ yếu dựa trên tiêu chí hình thức kỹ thuật là website/ứng dụng TMĐT bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ.
Theo đó, Luật TMĐT phân loại hoạt động TMĐT dựa trên bản chất hoạt động và mức độ tham gia vào giao dịch thành 04 loại hình nền tảng bao gồm: nền tảng TMĐT kinh doanh trực tiếp; nền tảng TMĐT trung gian; mạng xã hội hoạt động TMĐT; và nền tảng TMĐT tích hợp (Điều 4, Luật TMĐT). Cách tiếp cận này tạo lập cơ sở pháp lý cốt lõi để xác định và phân định trách nhiệm pháp lý của từng chủ thể trong hệ sinh thái TMĐT.
Minh bạch hóa thông tin và chuẩn mực công khai trên nền tảng số:
Luật TMĐT tăng cường đáng kể nghĩa vụ minh bạch và bảo vệ người tiêu dùng trên nền tảng TMĐT thông qua việc quy định:
• Các nền tảng phải công khai đầy đủ thông tin chủ quản, chính sách bảo mật, quyền và nghĩa vụ các bên, cũng như cơ chế tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, với yêu cầu hiển thị rõ ràng, dễ tiếp cận và bằng tiếng Việt (Điều 11, Luật TMĐT).
• Đối với nền tảng có chức năng đặt hàng trực tuyến, nghĩa vụ công khai được mở rộng sang điều kiện giao dịch, bao gồm chính sách giá, thanh toán, giao hàng, đổi trả – hoàn tiền, ưu tiên hiển thị và quy chế livestream bán hàng (Điều 11, Luật TMĐT), đồng thời phải có cơ chế để người mua rà soát và xác nhận sự đồng ý trước khi đặt hàng, và lưu trữ nội dung giao dịch để người mua truy cập sau khi đặt hàng (Điều 12, Luật TMĐT).
• Siết chặt quy trình đặt hàng và giao kết hợp đồng tự động, buộc nền tảng bảo đảm tính minh bạch, khả năng rà soát, truy vết và lưu trữ, qua đó đặt trách nhiệm pháp lý trực tiếp lên nền tảng trong toàn bộ vòng đời giao dịch (Điều 13, Luật TMĐT).
Khung pháp lý đặc thù cho hoạt động Livestream và Tiếp thị liên kết:
Luật TMĐT quy định rõ trách nhiệm pháp lý của người bán, người livestream bán hàng và chủ thể cung cấp dịch vụ tiếp thị liên kết, nhằm kiểm soát chặt chẽ các mô hình kinh doanh có rủi ro cao trên môi trường số như sau:
Đối với hoạt động livestream bán hàng:
• Chủ quản nền tảng TMĐT có trách nhiệm thiết lập và công khai quy chế livestream bán hàng, xác thực danh tính người livestream, kiểm soát nội dung và quảng cáo, đồng thời tiếp nhận và giải quyết phản ánh, khiếu nại của người xem. Nền tảng phải kịp thời dừng livestream và gỡ bỏ nội dung vi phạm theo quy định hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, cảnh báo rủi ro đối với hàng hóa, dịch vụ không an toàn, và lưu trữ dữ liệu livestream tối thiểu 01 năm để phục vụ công tác quản lý và xử lý vi phạm (Điều 22, Luật TMĐT).
• Người bán phải cung cấp đầy đủ hồ sơ pháp lý về điều kiện kinh doanh, chất lượng sản phẩm và nội dung quảng cáo (nếu thuộc diện phải xác nhận) trước khi thực hiện livestream (Điều 23, Luật TMĐT).
• Người livestream bán hàng có nghĩa vụ xác thực danh tính, tuân thủ quy chế livestream của nền tảng, từ chối hợp tác khi người bán không đủ hồ sơ, không cung cấp thông tin sai lệch và bảo đảm nội dung livestream phù hợp với quảng cáo đã được xác nhận (Điều 24, Luật TMĐT).
Đối với dịch vụ tiếp thị liên kết:
• Đơn vị cung cấp dịch vụ tiếp thị liên kết phải xác thực danh tính người tiếp thị trước khi thiết lập liên kết, từ chối và gỡ bỏ các liên kết đối với hàng hóa, dịch vụ vi phạm pháp luật, đồng thời cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý nhà nước khi được yêu cầu (Điều 25, Luật TMĐT).
• Người tiếp thị liên kết có nghĩa vụ cung cấp thông tin để xác thực danh tính, không tiếp thị trên các nền tảng vi phạm pháp luật hoặc gắn với nội dung trái đạo đức xã hội, và kịp thời gỡ bỏ liên kết vi phạm theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền (Điều 26, Luật TMĐT)
Quản trị thực thể hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới:
Điều 27 Luật TMĐT thiết lập khuôn khổ pháp lý riêng đối với hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới, theo đó mọi nền tảng TMĐT nước ngoài có hoạt động tại Việt Nam đều phải thực hiện thủ tục đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Tùy theo mô hình hoạt động và việc có hay không chức năng đặt hàng trực tuyến, chủ quản nền tảng TMĐT nước ngoài có nghĩa vụ tương ứng như sau:
• Nền tảng kinh doanh trực tiếp hoặc trung gian có chức năng đặt hàng trực tuyến phải thành lập pháp nhân hoặc chỉ định pháp nhân được ủy quyền tại Việt Nam: trước khi có lựa chọn ngôn ngữ hiển thị là tiếng Việt, hoặc sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” hoặc sau khi đạt ngưỡng giao dịch với người mua tại Việt Nam
• Nền tảng trung gian hoặc mạng xã hội không có chức năng đặt hàng trực tuyến phải chỉ định đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam: trước khi có lựa chọn ngôn ngữ hiển thị là tiếng Việt hoặc sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”.
Trường hợp điều ước quốc tế có liên quan không cho phép yêu cầu thành lập pháp nhân, nền tảng phải thực hiện các biện pháp thay thế, bao gồm chỉ định pháp nhân được ủy quyền, thực hiện ký quỹ tại ngân hàng tại Việt Nam và đáp ứng các điều kiện về quản lý, vận hành.
Pháp nhân được ủy quyền tại Việt Nam chịu trách nhiệm đại diện pháp lý toàn diện cho nền tảng TMĐT nước ngoài, bao gồm thực hiện thủ tục pháp lý, phối hợp xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tuân thủ quy định về dữ liệu, an ninh mạng và quảng cáo, đồng thời làm việc, báo cáo và chấp hành yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Điều 29 – 31, Luật TMĐT).
Nghĩa vụ tuân thủ của các đơn vị cung ứng dịch vụ hỗ trợ TMĐT:
Luật TMĐT quy định trách nhiệm phối hợp và tuân thủ đối với các đơn vị hỗ trợ hoạt động TMĐT, bao gồm hạ tầng kỹ thuật, logistics, thanh toán và chứng thực hợp đồng điện tử. Các chủ thể này phải ngăn chặn và không cung cấp dịch vụ cho nền tảng vi phạm pháp luật, cung cấp thông tin, dữ liệu theo yêu cầu của cơ quan nhà nước, đồng thời bảo đảm kiểm soát hàng hóa, giao dịch, thanh toán, bảo mật dữ liệu và khả năng truy vết trong toàn bộ quá trình hỗ trợ hoạt động TMĐT (Điều 33 – 36, Luật TMĐT).
Ứng dụng công nghệ trong quản lý trong TMĐT:
Luật TMĐT thiết lập cơ sở pháp lý cho việc vận hành Hệ thống quản lý hoạt động TMĐT do Bộ Công Thương quản lý, vận hành và kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia, qua đó phục vụ việc xử lý thủ tục hành chính trực tuyến, tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, giám sát rủi ro cũng như công bố danh sách các chủ thể tuân thủ hoặc vi phạm pháp luật (Điều 37, Luật TMĐT). Song song với đó, Cơ sở dữ liệu TMĐT được xây dựng và liên thông giữa các bộ, ngành, làm nền tảng cho việc yêu cầu các nền tảng và đơn vị liên quan cung cấp, cập nhật dữ liệu đầy đủ, kịp thời và chính xác (Điều 38, Luật TMĐT).
Quy định chuyển tiếp và lộ trình tuân thủ Luật TMĐT:
Các website/ứng dụng TMĐT và tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử đã được xác nhận thông báo hoặc đăng ký trước khi Luật TMĐT có hiệu lực được tiếp tục hoạt động theo hồ sơ đã được chấp thuận đến hết ngày 30/6/2027 (Điều 41, Luật TMĐT).
